Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

Việt Phương: Thơ và Người

Tôi có may mắn được làm việc cùng cơ quan với nhà thơ Việt Phương ngay vừa khi rời ghế trường đại học, được nhà thơ Việt Phương, lúc đó là nhà quản lý kinh tế và là người chú của tất cả lớp cán bộ trẻ chúng tôi mới ra trường vào làm việc ở cơ quan đó, hướng dẫn, chỉ bảo ân cần trong mọi công việc, được nghe chú giảng về các học thuyết kinh tế thị trường trong bối cảnh nền kinh tế nước ta vẫn chủ yếu vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung (năm 1982-1984). 
Được làm việc với chú, được nghe chú giảng bài, tất cả lớp trẻ chúng tôi đều khâm phục và kính trọng chú, không chỉ vì kiến thức uyên bác mà còn đặc biệt vì sự ân cần, nhiệt tình và tôn trọng của chú dành cho thế hệ trẻ. 
Tôi vẫn nhớ mãi nhiều câu nói của chú, nhất là câu tổng kết, đánh giá phương thức lãnh đạo, quản lý nền kinh tế lúc đó: "Mục tiêu chệch, cơ chế hỏng, vận hành sai và điều khiển tồi". Tôi cũng được nghe nhiều dư luận về chú và tập thơ "Cửa mở" của chú, cả chuyện chú không được phép ra ngoài lãnh thổ Việt Nam (nên năm 1989 khi gặp chú ở Đại sứ quán Việt Nam tại Paris, tôi đã rất ngạc nhiên). Từ kính trọng chú, tôi cũng thường theo dõi các tập thơ của chú. Vậy nên Blog này có lưu lại một vài bài thơ và thông tin về chú.
Ai
Tác giả: Việt Phương
I
Cán bộ hành chính ta là ai
Con sâu mọt đáng đời nguyền rủa
Hành hạ dân đến tột cùng khốn khổ
Vơ vét dân đến cả mớ rau nghèo

Hay ta là người công chức gieo neo
Lương không đủ cho con theo thày học
Dẫu thương dân thì cũng đành bất lực
Cơ chế nào trói chặt sức con người
Hay ta luôn dằn vặt mãi không nguôi
Ngày hai buổi đứng ngồi vô tích sự
Vẹo sườn dưới chồng giấy tờ đồ sộ
Viết những điều cổ hủ đến buồn nôn

Ta giãy giụa trong vòng xoáy sinh tồn
Chỉ mong một môi trường không ô uế
Ta đã từng có một thời trai trẻ
Từng dưới cờ tuyên thệ quyết vì dân

Đời con người dẫu chỉ sống một lần
Khi cả nước hành quân lên hiện đại
Đến cây cằn bỗng nở mùa hoa trái
Đây là lần sống lại của đời ta

Sáng bừng lên những bài học từ xa
Qua ống kính vạn hoa thời đổi mới
Mở tầm mắt nhìn ra ngoài thế giới
Hành chính về trong nguồn cội nhân dân

Đất trời nay đang vào giữa mùa xuân
Nghe trong gió thì thầm lời nhắn nhủ
Thôi giã biệt những lối mòn xưa cũ
Đường ta đi cùng mở với bao người
 II
Giám đốc doanh nghiệp ta là ai
Nửa đời chiến chinh nửa đời bao cấp
Thời đổi mới gian truân hơn đánh giặc
Đã mười năm quần quật mở thị trường

Ta là người tiên phong khai phá đường
Gánh trên vai nỗi đoạn trường cải cách
Hay ta là một con sâu luồn lách
Xoay kiến ăn trong những ngách bùn đen

Ta đọa đầy những điêu đứng triền miên
Trên búa dưới đe bốn bề chèn ép
Hay ta hưởng toàn rượu ngon gái đẹp
Khoét của dân giành hết mọi bùi thơm

Ta chất chứa bao niềm vui nỗi buồn
Bao nhiêu tủi hờn bao nhiêu uất ức
Biển quê hương đêm triều dâng rạo rực
Con sóng nào thao thức gọi bình minh

Ta chỉ là một kẻ tù binh
Cưỡi đầu hổ rùng mình không dám xuống
Hay ta là nhà thơ giàu mộng tưởng
Luôn vươn lên theo hướng mặt trời

Ta lo toan quanh quẩn cái tôi
Lo giữ ghế lo xu thời nịnh hót
Hay ta muốn dân lên người vị ngọt
Dốc đời ta chi chút trả ân tình

Ta lắng nghe đất nước chuyển mình
Từ sâu thắm lòng dân bao khát vọng
Những cay đắng và ngọt ngào cuộc sống
Đang chờ ta lồng lộng gió lên rồi
III
Là nhà khoa học ta là ai
Nhập cuộc sâu hay còn ngoài đổi mới
Ta chủ động hay ta là con rối
Được phát huy hay còm cõi góc bàn

Làm Đảng viên hay khệnh khạng làm quan
Sống chiến đấu hay sống mòn công chức
Bao câu hỏi giữa hai bờ hư thực
Ở đâu nguồn tri thức trả lời đây

Những xấu xa trắng trợn tự phơi bày
Những cơ chế trói tay người tâm huyết
Những cấp phát, xin cho và phê duyệt
Bao tiềm năng nằm liệt đến bao giờ

Ta trở về những thôn cũ làng xưa
Ta đến với những bến bờ mới lạ
Ta hỏi người, hỏi cây và hỏi đá
Hỏi núi rừng đồng lúa hỏi lòng dân

Những lực gì đang ngăn cản dòng sông
Vượt ghềnh thác muôn trùng về biển rộng
Những dự định thời thanh niên mơ mộng
Đêm đên còn cháy bỏng đốt tim ta

Sẽ đến ngày đất nước thăng hoa
Còn xa tắp hay đã là gần lắm
Đường thênh thang hay đường còn thăm thắm
Mẹ già ta đăm đắm đợi lâu rồi

Con tàu ta lướt sóng vượt ra khơi
Nào đâu lực nào đâu thời đâu thế
Cùng dân tộc ta hồi sinh sức trẻ
Nắng ban mai đã hé ở chân trời

Việt Phương (1995)
——-
Nhà thơ Việt Phương là cựu thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng (Phan Văn Khải), thành viên Viện Nghiên cứu Phát triển IDS (đã tự giải thể). Ông cũng từng làm thư ký, trợ lý cho các ông Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng Nguyễn Duy Trinh và Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị.
-------------
Nhà thơ Việt Phương và chuyện khi "Cửa đã m"
Lao Động Cuối tuần số 08 Ngày 24/02/2008 Cập nhật: 6:25 AM, 24/02/2008
Bìa sách cuốn "Cửa đã mở",
NXB Thanh niên, 2008.
(LĐCT) - Nếu vô tình với thơ, có lẽ thế hệ trẻ chúng tôi chỉ biết láng máng "chuyện Cửa mở" với vài câu thơ "trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ; Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ"... Tôi tìm gặp nhà thơ Việt Phương khi ông vừa ra tuyển thơ chọn lọc "Cửa đã mở". Ở tuổi 80, ông vẫn hoạt bát chuyện thơ, chuyện đời.

Nhà thơ Việt Phương nhắc đi nhắc lại một câu khi tôi hỏi về chuyện hoạn nạn năm xưa: "Không còn gì để nói nữa đâu, chuyện đó người ta đã nói hết rồi". Ông tìm đưa tôi vài văn bản: bài phỏng vấn của Nguyễn Bùi Vợi, biên bản cuộc họp về tập "Cửa mở" ngày 12.11.1970 (bản photocoppy từ phụ trang Thơ của báo Văn nghệ năm 2004) và bản photocoppy tập thơ "Cửa mở" (tác giả cũng không còn bản in). Tôi ghi lại đây những chia sẻ của Việt Phương về hành trình từ "Cửa mở" đến khi "Cửa đã mở".

"Tôi không phải người làm thơ chuyên nghiệp, đã không được trời phú cho tài thơ, lại chẳng có nhiều thời gian để làm thơ, cái méo mó nghề nghiệp của người chuyên hoạt động về lý luận chính trị khiến cho thơ sinh ra rất nhọc nhằn.

"Cửa mở" đến "Cửa đã mở" là chuyện thơ của " người trẻ tuổi", tròn 10 năm, độ  từ 30  đến 40 tuổi, tiếp đó là chuyện thơ 40 năm của người từ 40 đến 80 tuổi, một dòng thời gian, để người làm thơ chiêm ngẫm nhiều hơn. Về nghệ thuật, tôi nghĩ, cũng không có gì nhiều thêm. Cái tên "Cửa đã mở" được gợi ý từ câu thơ của đại tướng Võ Nguyên Giáp tặng tôi năm 1988 (Một năm sau đó, năm 1989, tập "Cửa mở" in lần đầu (năm 1970) được tái bản): "Cửa đã mở rồi/...Chàng trai ta vừa ngâm vừa hát/Vừa nhìn về tương lai, ung dung tiến bước".

Năm 1970, tôi làm thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, không bị kỷ luật gì cả, vẫn được là đảng viên 4 tốt xuất sắc, có lẽ một phần quan trọng vì tập thơ được nhiều nhà thơ, nhà văn thuộc mấy thế hệ thơ ủng hộ. Chuyện Tố Hữu "đánh" tập thơ cũng là không có đến thế đâu.  (Tuy nhiên, trong buổi giới thiệu về tập "Cửa đã mở" tại TT Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây ngày 16.2.2008 vừa qua, nhà thơ Hoàng Minh Châu, người biên tập cuốn "Cửa mở" kể lại chuyện cũ, có nói, người làm thơ không bị kỷ luật gì nhưng những người làm sách thì bị điều tiếng khốn khổ - N.T).

"Tôi không có ý nhìn lại, không có gì phải nhìn lại. Đời tôi đến nay 64 năm hoạt động cách mạng, thường tự nghĩ, nếu được đi trở lại, vẫn sẽ đi con đường như thế.

Sau "Cửa mở", có những đề nghị tôi in tập mới, nhưng tôi chưa in vì không thấy có thể bằng lòng về thơ của mình. Thơ xuất hiện, chắc chắn nhận được sự đánh giá của công chúng. Không xuất hiện, nó chỉ còn nhận được sự phán xét của thời gian, điều này là sự thiệt thòi mà tôi biết là mình phải chịu. Bây giờ, cũng là nhờ sự thúc đẩy và giúp đỡ từ đã lâu của các bạn thơ, nên mới có tập thơ thứ hai này.

Thời "Cửa mở", thời thanh niên, tôi say mê thơ Pháp, nhất là siêu thực, và dù vốn văn hoá Phương Tây của tôi cũng chẳng phong phú rộng lớn gì, nhưng chắc chắn nó hơn vốn văn hoá phương Đông của tôi rất nhiều. Từ hàng chục năm nay, mỗi khi có dịp, tôi lại tìm cách bổ sung cho mình văn hoá Phương Đông, văn hoá dân tộc. Nên ở tập thơ "Cửa đã mở", tôi có làm cả lục bát, điều thiếu vắng trong "Cửa mở". Có một thời, tôi tâm đắc câu thơ của Paul Eluard: "Tất cả vấn đề là nói hết mà tôi thì thiếu ngôn từ/ thiếu thời gian và thiếu lòng dũng cảm".

Tôi làm thơ vì biết mình muốn nói và có gì để nói, nhưng lại cảm thấy không biết nói ra như thế nào, theo cách của thơ. Có lúc, tôi còn muốn thơ chẳng những nói hết, mà còn nói trước. Nhưng thơ, làm sao mà nói hết và nói trước, dẫu là nói bằng cách của thơ. Tôi nhận ra mình nghĩ sai về khả năng của thơ. Tôi muốn thơ hướng đến chiều sâu niềm vui và nỗi đau, của cuộc đời thường nhật. Cuộc đời với tôi bao giờ cũng cao hơn giấc mộng. Mà đó lại là một mơ mộng, một ước vọng cao lắm, lớn lắm...

Hành trình thơ của tôi là hành trình thoát ra vòng trói của "những ẩn dụ oái ăm", "những thông minh văn vẹo" những cách "đảo không gian thời gian cho khó hiểu" và ngỡ thế là chiều sâu để đến được với chiều sâu trong cuộc đời thường: "Vứt nốt cảm giác và suy tưởng/ Tay trắng một mình với thơ; để "viết bài thơ một âm thanh bao hàm mọi chuyện".

Cho nên ở tập thơ "Cửa đã mở", tôi muốn làm những bài thơ mà đầu đề chỉ có một từ đơn âm, nhưng là "âm chủ". Dấu vết siêu thực thì vẫn còn, chẳng hạn bài "Bay": "Người bay vào mây/Mây bay về đời/ Đời bay xuống trời/ Trời bay lên đất/ Đất bay thành hơi" nhưng là cái siêu thực phương Tây kết hợp với tinh thần phương Đông, nên mây vẫn bay về đời.

Nếu nói một quan niệm thơ mà tôi đã chọn lựa cho mình, sau khi tìm hiểu nhiều quan niệm thơ, thì là thế này: Thơ là kết tinh sáng tạo, vươn lên thăng hoa của tình yêu cuộc sống và con người thể hiện bằng câu chữ, bằng hình tượng ngôn ngữ mà quý nhất là mới mẻ vì tự nhiên và giản dị. Nhờ thế mà giàu sức truyền cảm và gây xúc động. Hỏi thơ với tôi là gì? Đó là một băn khoăn suốt đời tôi, một sự tìm kiếm suốt đời, và có lẽ nhà thơ nào cũng tìm kiếm...

Tôi tâm đắc câu này của Xuân Diệu: "Nên gắng làm thơ, nhưng đừng gượng làm thơ". Thơ không nên và không thể ép. Đến bây giờ tôi vẫn không dám nhận mình là nhà thơ, dù sao tôi vẫn chỉ là người làm thơ nghiệp dư thôi...".

Bao nhiêu năm vẫn cứ vẹn nguyên một tâm ý từ "Cửa mở", rồi "Cửa đã mở". Lại xa xôi nghĩ về câu Kiều mà Việt Phương đã đưa vào bài thơ tuổi 80 của mình: "Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời...".
-----------
Tuổi ngoài tám mươi, Việt Phương trình làng tập thơ thứ ba. Cửa mở, đấy là đẩy ra. Cửa đã mở, đấy là đẩy vào. Bơ vơ đông đảo, đấy là xoay trong. “Người thành đạt là người thực hiện được khoảng một phần ba những điều dự định”, nhà thơ nói, và theo đó có thể nghĩ ông là người thành đạt, ít nhất ở thơ. Ông ý thức được mình, “thơ thật sự bắt đầu khi bài thơ kết thúc”. Bây giờ thì ông không làm gì được nữa với những bài thơ của mình. Chúng đã được làm xong, đã được in ra, và chúng hiện lên trước mặt chúng ta. Khởi đầu thơ ông bây giờ là từ chúng ta. Thì là như vậy chứ còn sao! Còn ông, Việt Phương, nhà thơ, ông nói với chúng ta rằng là ông vẫn còn giàu lắm. Giàu gì? Giàu tình.


Một cách-thế-sống và thế-thái-giọng Việt Phương

PHẠM XUÂN NGUYÊN

Tôi đọc thơ Việt Phương thấy ra một cách-thế-sống, một thái độ đời, một giọng điệu thơ, mà để gọi tên ra thì chỉ có thể gọi là thế - thái - giọng Việt Phương - Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên. Và để tóm gọn bản chất của thế - thái - giọng đó thì chỉ cần đọc lên câu thơ: “Thì là như vậy chứ còn sao”. Mà không phải bây giờ, ở tập thơ thứ ba của ông Bơ vơ đông đảo (BVĐĐ) khi tác giả đã ngoài bát thập xuân, mà ngay ở tập thơ đầu tiên Cửa mở ra vào độ tuổi “nhi bất hoặc”, ông đã xác định ngay cho mình thế - thái - giọng đó. Chỉ có với thời gian tuổi tác nhiều lên, dày lên, nặng lên, “gừng càng già càng cay”, Việt Phương càng sâu sắc và sâu nặng hơn chất hiệu riêng ấy của mình.

“Thì là như vậy chứ còn sao”. Nhưng mà như vậy là như vậy thế nào? Học theo cách ông đặt tên các bài thơ chỉ nhõn, chỉ độc một chữ, tôi thử phân chất thơ ông ở tập BVĐĐ cũng trong ba chữ: Sống, Yêu, Thơ.

SỐNG
Ta đau lắm những nỗi đau sinh nở
Cuộc đời thân như hơi thở ta ơi
Ta vui lắm những niềm vui cởi mở
Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi...

Đây là bốn câu kết của một bài thơ nổi tiếng nhất trong tập Cửa mở. Bốn mươi năm đã đi qua trên những dòng thơ này. Anh thanh niên Việt Phương bốn mươi tuổi ngày ấy đã sớm nhìn ra và nhìn thấy, đã dám nói ra và nói được, rằng: chỉ có cuộc đời là đáng sống, chỉ có sự sống là đáng quý, mọi tín điều có thể chao đảo, lung lay, đổ sụp, nhưng còn là người, còn sống đời con người thì còn những niềm vui nỗi khổ trần thế, và hạnh phúc thay được sinh ra là người và được sống làm người. Cố nhiên, bốn mươi năm trước, tác giả chỉ mới bắt đầu chiêm nghiệm điều này từ và dưới góc độ chính trị - xã hội. Năm tháng qua đi, ông trải nghiệm hơn mọi lẽ nhân sinh trên tuổi tác của mình.

Sáu mươi tuổi, ông thấy cuộc đời như vừa mở lại trước mắt mình, và dõng dạc ông ném ra câu tuyên bố: “Sự thật ơi ta đã tỏ mặt mình”. Sự thật nào đây? Đó là “Cái chất người hơn tất cả thần linh/Ngạo ngược lắm khi so mình với chó”. Đó là “Cái cuộc đời như chiếc lá thật mềm” nhưng cũng là “Cái cuộc đời như một gã giả điên”, “Như một miền ngộ nhận”, “Như một người lận đận”. 


Nghĩa là “Cái cuộc đời đừng chỉ thấy một bề” vì cuộc đời là không hề phản trắc. Chỉ con người phản trắc với con người thôi. Ý này là của tôi nói ra, luận ra, không phải ý của nhà thơ. Nhà thơ đến tuổi này muốn “Hứng một dòng mưa”, chắc là để tẩy rửa bụi trần, xóa trôi những cặn ghét đời bám vào mình, thanh sạch lại mình, đặng sống tiếp đúng mình.
Nhà viết kịch vĩ đại Nauy Henrik Ibsen (1828–1906) từng coi viết văn như là tắm rửa để tẩy bỏ những cặn lắng của bản chất con người. “Tắm xong tôi cảm thấy sạch sẽ hơn, khỏe khoắn hơn, sảng khoái hơn”, Ibsen nói vậy. Việt Phương ở tuổi lục thập thấy mình như đã tới cõi ngộ, “đã qua rồi yêu giận ghét khinh”, người như thế là tâm đã thoát tục, là mắt đã có cái nhìn đại giác. Đây là theo ý cụ Khổng “lục thập nhi nhĩ thuận” (tuổi sáu mươi thì cái tai nghe lọt mọi điều phải trái đúng sai). Nhưng với Việt Phương, có thật thế chăng?

Bảy mươi tuổi, ông lại có thêm độ lùi mười năm để thức ngộ về mình, về đời. Bài thơ làm năm này có tên gọi “Vậy” như một sự đúc kết khẳng định, như một thấu triệt lẽ đời, qua một cái nhếch môi cười. Nhà thơ tự cười mình đã một đống tuổi “đè người”, tưởng oai vệ lắm, nhưng thực ra mình chỉ “đang sắm vai hề” thôi, mình chỉ “khờ khạo như bóng mây” thôi, mình chỉ là kẻ “nghĩ vay” thôi (nhưng không phải “thương vay”, may thay Việt Phương). Ngẫm lại, đời là nước chảy mây trôi. Và ông lại xác định quyết định "Sống cứ thật lòng mà sống đấy” để bật ra cái câu chính hiệu Việt Phương: “Thì là như vậy chứ còn sao”. Nhưng là như vậy đã được chưa, đến độ chưa?


Bảy mươi lăm tuổi, Việt Phương đi tiếp “con đường người” của mình về bến. Đây là bến nhân sinh. Ở chính hôm nay ông thấy “Cuộc đời bao giờ cũng cuối cùng cũng đầu tiên”, và ông tha thứ cho tất cả khi soi mình vào hồi quang tháng năm vụt qua loang loáng như một cuốn phim đời, để nhẹ nhõm sung sướng “Tôi là tôi đầy đủ đến dâng tràn”. Đây là bước dọn mình để con người nhập trời đất, nhập hư vô, thấy tất cả trong mình và mình trong tất cả. Vòng đời tuần hoàn trong tuần hoàn vũ trụ.

Năm năm nữa trôi qua, và nhà thơ của chúng ta thanh thản đến hồn nhiên: “Tám mươi tuổi tập ú tim/Cõi thiền gần lắm lặng yên vẫn chờ”. Xin hãy ngừng lại ở chỗ “ú tim” với cõi thiền của con người đã sống tám phần mười thế kỷ. Trò nghịch này là của tuổi nhỏ, tuổi đang vào đời, thế nghĩa là Việt Phương muốn mình là một ông - trẻ - tám - mươi, nghĩa là nhà thơ còn ham sống, vui sống, nghĩa là Việt Phương không muốn lánh đời. Ông vẫn còn căng buồm ra khơi (bài thơ về tuổi tám mươi tên gọi là “Buồm”), được như ông lão giữa biển của E. Hemingway thì mới đáng sống.


Bởi vì tuổi càng cao ông càng thấy:
Tranh cãi ồn ào quanh chiến lược
Bên hồ nườm nượp gái trai đi
Bấy nhiêu lý luận bao nhiêu nước
Chảy dưới cầu kia để lại gì

  (Vậy)

Bởi vì sống là để nói lời yêu, nhưng đôi khi cũng mệt mỏi vô cùng.
Người thủ trưởng mấy chục năm tuổi Đảng ấy
sao mà hèn hạ hống hách toan tính cưỡi đầu dân
Người lãnh đạo cao giọng thuyết lý công minh
        chính trực ấy sao mà ngập ngụa
            trong thủ đoạn gian hùng
Những chàng trai cười hề hề ca điệp khúc
            cả nước đi buôn lòng vòng
Những cô gái hãnh diện khoe
            bồ Úc bồ Thụy Sĩ
Ai anh hùng chuồng cọp bỗng sát phạt bon chen
Ai dày dạn hy sinh bỗng xoay tiền kiếm gái
Ta lại gặp trong ta con thú người thảm hại
Lồng lộn giành ăn và hưởng khoái

  (Lời)

Cho nên, đi hết con đường, lại thấy “làm người là khó”.
Sẽ đến thời khắp bốn phương tử tế
Cuối con đường có lẽ gặp con người

  (Đường)

Một con người sống đã hơn tám mươi năm trên đời mà còn viết một chữ “sẽ” thì quả là hành trình nhân loại từ NƠI GỪ (một cách bẻ chữ “Người” ghép lại của chính tác giả ở tập Cửa mở) đến nơi NGƯỜI còn dằng dặc lắm. Nhưng chính vì gian lao, khổ ải ấy mà mỗi người mỗi ngày sống càng phải gắng chắt chiu chất người cho mình.
Người ta sống qua tuổi năm mươi (chặng giữa của hành trình tại thế đời người thường được đo bằng trăm năm) là bắt đầu phân thân giữa hai chiều thời gian quá khứ và hiện tại. Sống với thời gian hai chiều (tên gọi một truyện của Vũ Tú Nam) là trạng thái ngày càng trở nên thường trực của con người kể từ đó. Việt Phương cũng trong vòng nhân sinh ấy. Nhưng ông không chịu đóng khung mình ở hai chiều đó, ông còn khát tương lai nữa “Và ngày mai cửa mở đón ta vào”.
Tổng kết lại cuộc đời, ông nói “Có lẽ tôi đã làm xong việc sống hỏng đời mình”. Nhưng với ông tuổi đời thêm lên mỗi năm vẫn:
Sống nao nức bộn bề sao cuộc sống
Những đôi mắt trẻ thơ mở rộng biết bao trời
Cốm lại thơm và trái hồng lại mọng
Một rặng cúc tần ướt nắng đẫm ban mai


YÊU
Người làm thơ nào cũng có thơ tình yêu. Thơ yêu của Việt Phương lúc này vẫn vừa dào dạt đắm say, nhưng lại vừa hồi ức và chiêm nghiệm. Người đàn ông trong con người này ở tuổi thanh niên đã từng giục giã “Yêu nữa người ơi, chẳng đủ đâu”, đã từng khao khát yêu đến mức “ta đi Yêu người ta yêu nhau/Người ta cũng là ta khác đâu”. Ở tuổi già, ông vẫn một nhiệt huyết yêu ấy “Anh yêu em không thể gì ngăn được”. Hơn thế, ông còn tự nguyện tự do và tự hào tuyên bố “Yêu em là NGUYÊN LÝ”, cho dù em có im hơi bặt tiếng.
Tuổi nào yêu thì cũng run rẩy, dại khờ cả. Có ở Việt Phương những cung bậc cảm xúc của tình yêu đôi lứa. Như em là mặt trời chiếu rọi mặt trăng anh sáng. Như anh đơn côi, còn em dễ đổi thay. Như anh là sóng, em là bãi bờ. Nhưng ở tuổi ông già mà thơ yêu bạo liệt đến thành tạo hóa ra em, người yêu đến thế này thì chỉ có một Việt Phương.
Xé nát em ra thành vũ trụ
Nghe những thiên hà hú thành đêm
Nhìn chim tha rác về thành tổ
Thu gom vũ trụ lại thành em

Việt Phương có những bài thơ yêu cho người yêu dấu của đời mình, cho người vợ của ông. Tình cảm của người đàn ông làm chồng ở đây là nỗi ân hận và lòng biết ơn đối với người đàn bà làm vợ. Có lẽ đó là thứ tình cảm chung trong tình nghĩa vợ chồng. Nhưng mà Việt Phương nói lên được một cách day dứt và thấm thía.
Cô gái đầy ước mơ khoa học
            từ chối ra nước ngoài nghiên cứu
Đi qua bao trận ốm của các con
Đi qua thời ngỗ nghịch của các con
Đi qua sự chì chiết bất công của các con
            khi các con đã lớn
Đi qua sự nhẫn tâm của người chồng
Đi qua sự lười nhác hèn hạ của những người đàn ông
Vừa thở đứt hơi vừa đổ rác lau nhà giã vừng
            nhặt rau sửa cái bếp dầu giặt chậu quần áo bẩn

Cô gái ấy bây giờ đã thành bà nội. Lời thơ như lời nói thường trĩu nặng một nỗi lòng. Đó là lòng thương xót và biết ơn như biển. Đi qua năm tháng cuộc đời, mùa xuân ở tuổi bạc tóc, cành lộc người chồng tặng vợ là “chút dại khờ” vẫn còn giữ lại được. Hạnh phúc ấy ông bà Việt Phương có được. Và chúng ta cũng có được qua thơ ông.

THƠ
Khi tập Cửa mở ra đời, tiếng thơ Việt Phương đã gây động làng thơ không chỉ vì những ý tưởng táo bạo mới mẻ được nói ra vào thời điểm đó, mà còn vì cái cách nói những điều ấy ra. Những câu thơ mang tính trí tuệ, cấu trúc duy lý, những hình ảnh bất ngờ, khác lạ, tạo sự va đập có dư chấn và vang âm đối với thi tính và thi cảm một thời. Bỗng tóe lên một bãi cười/Ở tầm cao một mét sáu mươi... Buổi sáng tháng tư sống tươi như cá quẫy... Có thể dẫn ra nhiều câu như vậy. Tiếc là cái chất Tây trong tư duy thơ Việt Phương hồi đó đã bị ngưng lại giữa chừng, nếu không nó sẽ còn có ích hơn cho thơ Việt đang rất nhiều duy cảm, ít duy lý. 
Tôi nói điều này có vẻ như ngược với sự “tự kiểm” của chính nhà thơ: Chia tay một thời Tây quá mức/Lang thang mộng du về phương Đông. Nhưng đó là hành trình tìm kiếm thơ. Việt Phương làm thơ và loay hoay tìm đi con đường thơ của mình. Ông viết hẳn những bài thơ, đoạn thơ để như tuyên ngôn nghệ thuật, xác quyết tín điều thơ cho bản thân. Bơ vơ đông đảo hiểu về mặt này là người không muốn lẫn vào đám đông vô sắc, vô cá tính. Thì thơ ngơ ngẩn là thơ/Thì người đông đảo bơ vơ là người. 
Cái thơ ngơ ngẩn đó của Việt Phương là thơ có được sau khi “Vứt nốt cảm giác và suy tưởng/Tay trắng một mình với thơ”, là thơ chỉ một âm thanh mà hàm mọi chuyện như đứa trẻ bập bẹ vô thức chọn đúng “cái tiếng chủ mang ý nghĩa bao trùm” trong chuỗi lời nói của người lớn.
Cái thơ ngơ ngẩn đó đối lập hoàn toàn và quyết liệt với những thứ thơ tang thương mà cứ ngỡ chiều sâu, thứ thơ “đào năm tầng ý nghĩa sau mỗi câu/Những ẩn dụ oái ăm những thông minh vặn vẹo/Đảo không gian thời gian cho khó hiểu”. Sự chống đối và khước từ một loại thơ ở đây rất rõ ràng, dứt khoát. Nhưng một khi “đã mang lấy nghiệp vào thân”, tác giả vẫn loay hoay với câu hỏi của muôn đời thi sĩ cổ kim đông tây: Thơ là gì có thật thơ là thơ?
Sự loay hoay tìm kiếm vật vã đó hiển hiện trong tập thơ thứ ba này của Việt Phương. Ông nghiêng nhiều về Đông trong các thể loại thơ luật, thơ vần, thơ lục bát, thơ bốn câu, bên cạnh vẫn có thơ tự do, thơ văn xuôi. Câu thơ của ông nhiều khi vẫn nói thẳng băng, trực tiếp, vẫn lập ý luận lý theo logic. Đôi khi những cặp câu sóng đôi, đối sánh khô khan, ít thơ, kiểu như Đi hết... Gặp..., “Đi hết say mê giận dữ dằn vặt chán chường/Gặp tình thương và ánh sáng”, chung chung và sáo. Nhưng có những bài ông tạo được một giọng nói thơ truyền ý với một hơi thơ truyền cảm, đập ngay vào giác quan thơ của người đọc. À,
Cuối cùng cái đẹp là cái đẹp
Đẹp dịu dàng nồng nàn khủng khiếp
Cuối cùng cánh cửa khép mở ra
Trong hộp đen là một chút thì là

Người ta sẽ tò mò muốn biết chút t
hì là trong hộp đen này là gì vì câu thơ như dửng dưng mà khêu gợi.

Việt Phương vẫn bất ngờ có những hình ảnh thơ khác lạ, chuyên chở thông điệp thơ. Ở bài “Quê” nói về một Hà Nội xô bồ hôm nay, xô bồ cả trong cảnh sắc và tâm trí lòng người, nhà thơ tạo hình ảnh “cầm thìa múc trời”. Tuổi thơ “cầm thìa múc trời tưởng lấy được kem từ những tầng mây trắng xốp”. Nay “Hà Nội và ta nhìn nhau/Ta muốn cầm thìa múc trời lấy màu xanh Hà Nội”.

Hình ảnh thơ ở hai vị trí đăng đối đầu cuối bài thơ biểu hiện một nỗi chua xót ngậm ngùi cho quê hương của tác giả. Lại có câu thơ đặt chữ khác thường: Em bảo anh rằng anh rất em. Chữ “rất” trạng từ chỉ mức độ ở đây không đi cùng động từ được đặt trước từ “em”, thế nghĩa là gì “anh rất em”. Câu thơ gợi mở và để ngỏ cho người đọc thụ cảm.
Tuổi ngoài tám mươi, Việt Phương trình làng tập thơ thứ ba. Cửa mở, đấy là đẩy ra. Cửa đã mở, đấy là đẩy vào. Bơ vơ đông đảo, đấy là xoay trong. “Người thành đạt là người thực hiện được khoảng một phần ba những điều dự định”, nhà thơ nói, và theo đó có thể nghĩ ông là người thành đạt, ít nhất ở thơ. Ông ý thức được mình, “thơ thật sự bắt đầu khi bài thơ kết thúc”. Bây giờ thì ông không làm gì được nữa với những bài thơ của mình. Chúng đã được làm xong, đã được in ra, và chúng hiện lên trước mặt chúng ta. Khởi đầu thơ ông bây giờ là từ chúng ta. Thì là như vậy chứ còn sao!
Còn ông, Việt Phương, nhà thơ, ông nói với chúng ta rằng là ông vẫn còn giàu lắm. Giàu gì? Giàu tình.
Ta giàu tình như rừng ta giàu lá
Người lấy đi lấy nữa đang còn đây
Dâng hết rồi ta vẫn thừa tất cả
Cạn hồn ta hoa quả lại lên đầy...

Hà Nội 28/7/2009.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét